Ái đức
Ái là yêu thương
Đức là cách cư xử, thái độ tốt đẹp
Ái đức là nói về thái độ yêu thương.

Lời thánh ca dùng nhiều từ Hán-Việt nay ít gặp. Hiểu được ca từ thì việc hát tôn vinh Chúa mới trọn vẹn.
Ái là yêu thương
Đức là cách cư xử, thái độ tốt đẹp
Ái đức là nói về thái độ yêu thương.
Ân điển là sự ban cho mà người nhận dầu không xứng đáng cũng không phải trả giá gì.
Sự sống đời đời là món quà (sự ban cho hay ân điển)
từ Đức Chúa Trời ban cho nhân loại, qua Đức Chúa Jesus Christ.
Ê-phê-sô 1:7 "Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài,
được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài."
Ê-phê-sô 2:8-9 "Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu,
điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời,
ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình."
Trong đêm Chúa Jêsus giáng sinh, các thiên binh, thiên sứ đã hát vang bài thần ca:
"Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao,
Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!"
Ân trạch chỉ về ơn ban của Thiên Chúa dành cho nhân loại.
Yêu thương mọi người, không phân biệt màu da, chủng tộc.
Thánh ca Tin Lành Việt Nam, bài 510
"Bác ái của Chúa lớn cao sâu rộng, tinh anh phú cường biết bao!"
nghĩa là chịu phục ai đó một cách kính cẩn.
Không thay đổi.
nghĩa là rất tôn quí.
gồm hai từ: CHIÊM và BÁI kết hợp lại
Chiêm là chiêm ngưỡng nghĩa trông lên có ý kính trọng.
Bái là bái yết nghĩa là lạy và trình diện vua, chúa.
Chiêm bái: trông lên Chúa cách kính trọng và thờ lạy Chúa hiện diện.
Trong tuyển tập Thánh Ca Tin Lành Việt Nam, bài số 345, có câu:
"Hồi dân thánh thảy cất lên trời, là ngày ta thong dong, vui tươi đầy sung sướng.
Hồi chiêm bái Vua muôn đời, khải hoàn ca reo vang đền Thiên Vương."
= chung thủy
Nghĩa bóng: trung thành với nhau từ đầu đến cuối.
Từ Hán: có nghĩa là cúi mình xuống (trong một nghi lễ).
Trong bài Thánh ca Kíp Đến Tôn Thờ (Thánh ca Tin Lành Việt Nam bài số 57)
có câu 4:
"Khi mọi thánh đồ cúc-cung tôn thờ..." nghĩa là Khi mọi thánh đồ cúi mình xuống tôn thờ.
Bản Thánh ca hiệu đính có thay đổi thành: "Khi mọi thánh đồ nhất tâm tôn thờ..."
Chúc tụng một cách cung kính.
= đêm.
Bất dạ: không có ban đêm.
Trong tuyển tập Thánh Ca Tin Lành Việt Nam, bài số 339, có tựa đề:
BẤT DẠ THÀNH có nghĩa là Thành không có ban đêm chỉ về Thiên Đàng mà Chúa hứa trong Khải Huyền 21-22.
hoặc trì diên
Diên: dài
Trì: làm chậm trễ
Diên trì hay trì diên là làm cho chậm hay kéo dài.
Diên trường: kéo dài
Nghĩa là hướng Tây.
nghĩa là dầu.
Trong tuyển tập Thánh Ca Tin Lành Viêt Nam, bài số 203, có câu:
"Ngài rót xuống chứa chan Thần du" nghĩa là dầu thánh của Chúa, chỉ về Đức Thánh Linh.
nghĩa là tiếng đã dừng mà vẫn còn nghe vang vọng tiếng vang.
Từ Hi-ba-lai nầy có nghĩa; “Đức Chúa Trời ở với chúng ta”.
Tiên tri Ê-sai (Isasia) dùng trước hết (Es 7:14 8:8,10) và Ma-thi-ơ có trích lại và chép ở Mat 1:13.
Danh xưng nầy được áp dụng cho Đấng Christ.
Danh xưng nầy bao hàm cả thần tánh Ngài. “Đức Chúa Trời” và “sự nhập thể” , “thành nhục thể” của Ngài tức “ở với chúng ta”.
nghĩa là quê hương nhà mình.
Trong Tuyển tập Thánh Ca Tin Lành Việt Nam, bài số 348 có tựa đề: GIA HƯƠNG CƠ ĐỐC NHÂN
Đội mũ vương lên đầu vua khi vua lên ngôi.
Một số nơi còn có Lễ Gia Miện.
Trong tuyển tập Thánh Ca Tin Lành Việt Nam, bài số 413 có câu:
"Khá gia miện Chúa thánh trên ngai,
Tung hô Chúa tể của muôn muôn loài!"
Từ trời xuống trần gian.
= giáng thế, giáng trần
Xuống đời làm người.
Thiên Chúa giáng sinh.
= A-lê-lu-gia
Nghĩa là: Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va.
Lời ngợi khen hoặc lời kêu gọi ngợi khen (hallel)
Đức Chúa Trời (JAH).
Từ nầy được dùng nhiều lần trong Thi-thiên.
Nghĩa là lạ lùng hiếm có.
Trong tuyển tập Thánh Ca Tin Lành Việt Nam, bài 79
Trong bản cũ có câu: "Thương sao hi kỳ!" nghĩa là Tình thương Chúa lớn lao lạ lùng thay!
Đây là một từ Hy-bá-lai được Hy văn mượn dùng có ý nghĩa:
“Xin hãy cứu! Chúng tôi nài xin Ngài!” (Thi 118:25).
Một lời để diễn tả sự vui mừng khi chào đón khách.
Công chúng hoan nghênh Chúa vào thành Giê-ru-sa-lem, đều kêu Ngài là Hô-sa-na, tức là công nhận Ngài Đấng Mê-si-a và có ý cầu xin Chúa ban phước cho (Mat 21:9,15; Mac 11:9,10; Gi 12:13).
Xem Thi 118:25, có ý cầu Chúa cứu giúp. Khi giữ lễ Lều Tạm ở Đền Thờ, đến ngày cuối cùng thứ bảy gọi là “Ngày Hô-sa-na Lớn”, các thầy tế lễ đọc Thi 113:1-118:29.
Mọi người trong lòng vui mừng, thường đồng thanh kêu lớn tiếng “Hô-sa-na” ở khoảng giữa câu trên và câu dưới.
Hội Thánh đời sau dầu quên mất ý chính của nguyên văn, nhưng trong các bài thi ca vẫn còn thấy từ Hô-sa-na. Cũng có nghĩa là vui mừng, nhảy nhót và khen ngợi.
Khi He 9:28 và Kh 7:9,10 được ứng nghiệm, Chúa tái lâm, thì Y-sơ-ra-ên sẽ dự phần về tiếng kêu Hô-sa-na đó và la lên “Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!” (Lu 13:35; Thi 118:25,26; Es 12:1-3).
= cầu khẩn
Cầu xin sự phù hộ
nghĩa là đời người.
Kiếp kiếp: từ đời này qua đời kia, mãi mãi.
= mĩ lệ
nghĩa là đẹp, tốt.
Mĩ mãn: tốt đẹp và đầy đủ
Mĩ quan: trông đẹp đẽ
Mĩ tự: tiếng để gọi tôn tên của người ta.
ví dụ: Xin cho tôi biết mỹ tự của ông là gì? có nghĩa là xin hỏi tên ông là gì với vẻ rất tôn trọng.
Mĩ vị: thức ăn ngon.
nghĩa là chung thủy
Trong tuyển tập Thánh Ca Tin Lành, bài số 402, có câu:
"Yêu mến trăm năm trọn nghì"
Oai nghiêm và đúng nghi thức.
Ngự (động từ)
Ngự lai: Đến ngồi, đến ngồi trên
Thi-thiên 22:3 "Còn Chúa là Thánh, Ngài là Đấng ngự giữa sự khen ngợi của Y-sơ-ra-ên."
Cũng xem thêm:
Chế ngự: cai trị
Ngự lâm: Tôn xưng vua
Ngự trị: Trị vì như một vị vua
Nguyên là khởi đầu
Chỉ là nền tảng
Nguyên chỉ là nền tảng ban đầu.
Trong tuyển tập Thánh Ca Tin Lành Việt Nam, bài số 402, có câu:
"Thật lạ lùng thay hôn lễ ban đầu
Nguyên chỉ Chúa Cha nhiệm mầu."
nghĩa là mặt trăng
(Danh từ)
(Động từ)
nghĩa là con người.
lòng thương đối với người.
nghĩa là rồi sau đó.
Trong tuyển tập Thánh Ca Tin Lành Việt Nam, bài số 247, có câu:
"Nhiên hậu Christ truyền lành ngay."
nghĩa là mặt trời
Nghĩa là núi.
nghĩa là giàu có và hùng mạnh.
lại dấy lên, lại hưng thịnh.
= quan sơn. Nghĩa là cửa ải và núi.
Nghĩa bóng: đường xa cách trở.
Xem thêm:
Quan hà: nghĩa là cửa ải và sông.
Quảng: nghĩa là rộng
Thông: nghĩa là hiểu biết
Quảng thông là hiểu biết rộng
chỉ về người tri thức, am hiểu.
Si-ôn là núi nơi vua Sa-lô-môn đã xây tại đó một đền thờ cho Đức Chúa Trời.
Trong Kinh Thánh, thơ Hê-bơ-rơ 12:22 và Khải Huyền 14:1 thì SI-ÔN chỉ về THIÊN ĐÀNG.
Trong tuyển tập Thánh Ca Tin Lành Việt Nam, bài số 22, có câu:
"Ta bước lên Si-ôn hè,
Tiến lên ngọn núi Si-ôn đẹp đẽ,
Ngắm Si-ôn ta hăng hái bước tới
Thủ đô thiêng liêng vinh quang muôn đời."
đồng nghĩa với siêu việt, trác tuyệt
Thánh ca Tin Lành Việt Nam, bài 416:
"Ôi, ca khen uy danh Chúa muôn thu quang vinh,
Quyền năng đắc thắng bất di trên ngôi siêu trác.
Duy Chúa, Cứu Chúa ta, hẳn chẳng có Đấng khác."
Nghĩa là trội hơn, vượt trên, thắng hơn.
= khen ngợi
nghĩa là khen ngợi.
Tán dương: khen ngợi, làm cho rõ ràng ra.
Tán mỹ: làm thành điều tốt của người ta.
Tán mỹ ca: Bài ca của người Cơ đốc khen ngợi Đức Chúa Trời
Tán tụng: khen ngợi làm cho truyền rộng ra
Chữ "TẤT" nghĩa là hết.
Chữ "SANH" nghĩa là mạng sống, sanh mạng.
"Tất Sanh": hết cả sinh mạng, đời sống.
Bài Thánh ca "Tôi nguyện dâng tất sanh" = Tôi nguyện dâng hết cả đời sống, sinh mạng cho Chúa"
nghìn dặm, rất xa. Đường thiên lý: đường rất dài.Từ cổ còn có nghĩa là: Lẽ Trời
Mặt của vua.
Trong tuyển tập Thánh Ca Tin Lành Việt Nam, bài số 548, có câu:
"Ôi rạng ngời, Thiên nhan vinh quang đời đời"
Nghĩa là ánh sáng đẹp.
Nghĩa là mặt trời xế chiều.
Trong Thánh ca Tin Lành Việt Nam, bài số 319, có câu:
"Tịch dương khuất non đoài."
- Qui điều, những điều căn bản trong niềm tin, tín ngưỡng.
Sự tinh túy. Phần tốt hơn hết trong mọi sự vật.
Nghĩa là đặc biệt lạ lùng, không còn ai hơn.
= chậm trễ
Gặp nhau lại.
= sự sống đời đời
còn gọi là ái từ
Từ là nhân lành
Ái là yêu thương
Từ ái nghĩa là lòng yêu thương con người .
Từ là nhân lành
Bi là thương xót
Từ bi là nói đến lòng yêu thương, thương xót
= ca tụng, chúc tụng, tán tụng
nghĩa là khen ngợi.
Tụng ca: lời ca ngợi công đức của Đức Chúa Trời.
Tụng mỹ: ca ngợi những điều tốt đẹp của Đức Chúa Trời
An ủi, vỗ về.
Đấng Ủy lạo: Đấng an ủi.
Trong Tuyển tập Thánh Ca Tin Lành Việt Nam, bài 01 có câu:
"Đấng Ủy lạo hỡi ngự lai"
Thanh danh oai nghiêm.
Uy quyền và thiêng liêng.
= trọn vẹn.
= vĩnh viễn
nghĩa là lâu dài
nghĩa là hạnh phúc lâu dài.
(Danh từ)
(Động từ)
Trong bài Thánh ca Ngợi Khen Dòng Huyết, có câu:
"Tôi gieo thân trong suối huyết vô nhai" ý nói đến sự đầu phục, không chống cự, không trì hoãn.
chỉ về trang phục.
Bạch y: áo trắng.