Giải thích từ ngữ



KÌA CHÍN MƯƠI CHÍN CON

Sáng tác: Elizabeth C. Clephan
Soạn nhạc: Ira D.Sankey
“The Ninety and Nine”

“Kìa chín mươi chín con nằm bình yên,
Trong bốn vách tường ràn chiên,
Một con bơ vơ nơi dốc núi xa,
Xa cách cửa vàng nhà Cha.
Ngơ ngác quẩn quanh non núi gốc gai,
Vắng bóng Cứu Chúa, người chăn êm ái,
Vắng bóng Cứu Chúa dìu dắt đêm ngày.”

Bài thánh ca này được soạn ra bởi sự kỳ diệu của một phút xuất thần, Thánh Linh luôn ban cho tâm hồn người yêu mến Chúa những giây phút cãm động sâu xa. Quyền năng nhiệm mầu của Thiên Chúa luôn làm cho những điều tầm thường nhất trở nên phước hạnh nhất cho mọi người. Ira D.Sankey sáng tác một nhạc điệu ứng khẩu cho một bài thơ mới ngay lúc tình thế thúc bách do một tiếng nói bên trong đã thúc giục ông khiến cho bài Thánh ca phổ biến này đã ra đời đúng lúc.

Nhiều năm về trước, một thanh niên trụy lạc bỏ gia đình mình ở Anh qua làm ăn ở Gia Nã Đại (Canada). Ở đó anh ta vẫn vùi mình uống rượu, cờ bạc. Cuộc sống kéo dài như vậy một thời gian. Một buổi tối mùa Đông, anh say rượu và trượt chân ngã ngoài đường khi đi về nhà. Anh không đứng dậy được và qua đời vào ngày hôm sau. Hung tin ấy đồn về gia đình bên Anh nhưng chẳng khiến ai xúc động. Hình như ai cũng muốn anh qua đời.

Tuy nhiên cô em ruột của anh, Elizabeth C. Clephan (1830–1869), một thiếu nữ hết lòng yêu mến Chúa, yêu người, và nhất là rất yêu anh Andrew hoang đàng này. Cô đã cầu nguyện cho anh cô từ lâu. Khi nghe tin anh cô qua đời, cô vô cùng đau đớn. Cô vào phòng riêng đóng cửa lại và cầu nguyện. Cô nhớ lời kinh thánh trong Luca 15:3-7. Đúng rồi, chẳng lẽ ân điển Ngài không đủ để chia xẻ cho con chiên lạc đường sao? Chẳng lẽ Ngài đã thỏa mãn vì còn 99 con chiên trong chuồng sao? Sau một hồi lâu, cô dường như nhận được sự trả lời, nét mặt hớn hở, cô đứng dậy, lấy giấy bút và viết ra những cảm nghĩ của mình: bài thơ “Kìa chín mươi chín con”.

Cô cất tờ giấy vào trong tủ áo. Khi cô qua đời, người ta tìm thấy, đọc và cảm động nên gởi đi đăng báo. Chúa cho David Sankey đọc được và phổ nhạc. Câu chuyện sáng tác nhạc xảy ra như vầy:

Sau 4 tháng để nhiều sức lực hội họp, giảng luận tại Glasgow, ông và Dwight L. Moody đang trên đường đến Edinburgh để tổ chức một chiến dịch giảng Tin Lành theo lời mời tha thiết của hội các nhà truyền đạo. Ngay trước khi lên xe lửa Sankey mua một tờ tuần báo giá 1 xu với chút mộng tưởng rằng đó chắc là đồng xu tốt nhất mà ông bỏ ra. Lướt qua vài tin tức ở quê nhà, ông chẳng tìm thấy gì có dính dáng tới Hoa Kỳ, ngoại trừ một bài giảng của Henry Ward Beecher. Chán nản, ông quẳng tờ báo xuống và một lúc sau ông lại nhặt nó lên chỉ cốt ý giết thì giờ bằng cách đọc những dòng quảng cáo. Chính lúc ấy ông tìm thấy một bài thơ nằm trong cột báo mà ông đã bất cẩn bỏ qua trong lần đọc đầu tiên. Ông đọc, cảm thấy thích và quả quyết rằng nếu được ai phổ nhạc thì bài thơ ấy làm cảm động người nghe. Khi Sankey đọc cho Moody nghe, nhà truyền đạo không chuyên nổi tiếng nầy chỉ gật đầu nghe cách lịch sự, bởi ông đang mải mê đọc mấy bức thư gia đình gởi sang từ Hoa Kỳ, đến mức chẳng còn tâm trí nào mà nghe lấy một chữ gì. Dầu thế, Sankey cứ cắt bài thơ ra và để nó trong quyển ghi nhạc của ông.

Vào buổi thờ phượng lúc trưa ngày thứ nhì của đợt giảng đặc biệt ở Edinburgh, Moody giảng về đề tài “Người chăn chiên hiền lành”. Tiếp theo sứ điệp của ông, Tấn sĩ Horatius Bornar, tác giả TC “Tôi nghe tiếng Chúa phán”, và những bài phổ biến khác nữa, nói vài lời làm người nghe xúc động. Bởi tài hùng biện của ông. Khi Tấn sĩ Bornar ngồi xuống, Moody quay sang nhà lãnh đạo ban hát của mình hỏi “Anh có bài đơn ca kêu gọi nào thích hợp với chủ đề nầy để kết thúc buổi nhóm không?” Sankey thú thật rằng ông hoàn toàn chẳng có. Chính ngay giây phút đó, “tiếng nói bên trong” bảo: Sankey, hãy hát bài Thánh ca con bắt gặp trên xe lửa”. Ông trả lời: “Điều đó không thể được, bài đó chưa có nhạc”. Nhưng giọng ấy cứ nhất định như vậy. Sankey phản kháng: “Con có thể hát dở khổ thơ đầu, nhưng phần còn lại thì sao ?” Giọng ấy trả lời: “Con lo khổ thơ đầu, phần còn lại để cho ta”.

Bình thản như thể ông đã hát bài ấy cả ngàn lần, Sankey đặt mảnh báo trên cây đàn ngang trước mặt ông, hướng lòng lên trong lời cầu nguyện ngắn ngủi, rồi đặt tay lên phím, đàn dạo hợp âm la. Với giọng nửa nói, nửa hát, ông đi qua khổ thơ đầu.

“Kìa chín mươi chín con nằm bình yên,
Trong bốn vách tường ràn chiên,
Một con bơ vơ nơi dốc núi xa,
Xa cách cửa vàng nhà Cha.
Ngơ ngác quẩn quanh non núi gốc gai,
Vắng bóng Cứu Chúa, người chăn êm ái,
Vắng bóng Cứu Chúa dìu dắt đêm ngày.”

Với tinh thần trông chờ lặng lẽ, cả hội chúng lắng nghe ông hát hết 5 lời của bài Thánh ca mới tuyệt diệu này. Khi những âm thanh cuối cùng của dòng chót “Vui quá đã tìm được chiên” chấm dứt, Moody đi qua cây đàn organ, hỏi Sankey với cặp mắt đẩm lệ:

– Anh lấy bài hát đó ở đâu vậy ?

– Đó là bài tôi đọc cho anh nghe hôm qua trên xe lửa.

Quả thật, Sankey tự nhiên tìm được một điệu nhạc phù hợp với lời thơ từ nơi Chúa ban khi ông ngồi ở chiếc đàn organ thùng trước cử tọa hàng ngàn người tại đại sảnh tự do ở thủ đô Edingburgh xứ Tô Cách Lan (Scotland) vào buổi trưa năm 1874.

Từ ngày ấy đến nay, bài Thánh ca “Kìa chín mươi chín con” chẳng thay đổi nhiều. Điệu nhạc của Thánh ca ấy đã trở thành nhạc khúc nổi tiếng. Ngày nay phổ biến hơn trong các giờ tôn vinh Chúa của nhiều Hội Thánh trên thế giới.